Văn bản Hội nhà báo Việt Nam
QUY CHẾ LÀM VIỆC CỦA BAN CHẤP HÀNH HỘI NHÀ BÁO VIỆT NAM (KHOÁ IX) (13/10/2010 09:02)

 

HỘI NHÀ BÁO VIỆT NAM                         CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
     Số: 989 /QC-HNBVN                                       Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
               ──────                                                 ─────────────────
                                                        
                                                                       Hà Nội, ngày 06  tháng 9  năm 2010
 
  
         QUY CHẾ LÀM VIỆC CỦA BAN CHẤP HÀNH HỘI NHÀ BÁO VIỆT NAM (KHOÁ IX)
 
  
-         Căn cứ chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Hội Nhà báo Việt Nam quy định trong Điều lệ Hội đã được Chính phủ phê duyệt;
-         Căn cứ Nghị quyết hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam (khoá IX) ngày 04/10/2010 về việc ban hành Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam (khoá IX).
 
 
I. TRÁCH NHIỆM VÀ QUYỀN HẠN
 
 
Điều 1. Ban Chấp hành Trung ương Hội là cơ quan lãnh đạo và điều hành của Hội giữa hai kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc, có nhiệm vụ cụ thể như sau:
-         Lãnh đạo mọi hoạt động của Hội trong thời gian giữa hai kỳ Đại hội.
-         Quyết định chủ trương về công tác đối nội, đối ngoại của Hội; thông qua chương trình công tác toàn khoá, hàng năm; quyết định những vấn đề quan trọng về tổ chức Hội và việc thành lập các tổ chức trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Hội; hướng dẫn thực hiện Điều lệ Hội.
-         Triệu tập, chuẩn bị nội dung Đại hội đại biểu toàn quốc và Đại hội bất thường hoặc Hội nghị giữa nhiệm kỳ.
-         Xây dựng Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Hội và hướng dẫn Quy chế làm việc của các tổ chức Hội trực thuộc.
-         Ban Chấp hành Trung ương Hội bầu Ban Thường vụ; bầu Chủ tịch Hội, các Phó Chủ tịch Hội trong số Uỷ viên Ban Thường vụ; bầu Ban Kiểm tra Trung ương Hội. Số lượng Uỷ viên Ban Thường vụ, số lượng các Phó Chủ tịch, Uỷ viên Ban Kiểm tra do Ban Chấp hành Trung ương Hội quyết định. Trong trường hợp cần thiết và sau khi xin ý kiến của các cơ quan có thẩm quyền, Ban Chấp hành Trung ương Hội được bầu bổ sung các Uỷ viên Ban Chấp hành, số lượng bầu bổ sung không quá 20% số lượng Uỷ viên Ban Chấp hành nhiệm kỳ do Đại hội đại biểu toàn quốc bầu ra.
-         Xem xét và quyết định các hình thức kỷ luật, kể cả việc bãi miễn tư cách Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Hội và tư cách Uỷ viên Ban Kiểm tra, đối với Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Hội và Uỷ viên Ban Kiểm tra vi phạm pháp luật Nhà nước, vi phạm Điều lệ Hội, Quy định đạo đức, nghề nghiệp của người làm báo; Xem xét và quyết định đối với trường hợp Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Hội xin thôi nhiệm vụ Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Hội.
Điều 2. Ban Thường vụ Hội Nhà báo Việt Nam hoạt động theo Điều 18, Điều lệ Hội Nhà báo Việt Nam.
Ban Thường vụ lãnh đạo và kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc, Nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương Hội; quyết định những vấn đề về chủ trương, chính sách, tổ chức, cán bộ, quyết định triệu tập và chuẩn bị nội dung các kỳ họp của Ban Chấp hành Trung ương Hội; báo cáo những công việc quan trọng đã làm trước hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội hoặc theo yêu cầu của Ban Chấp hành Trung ương Hội.
Thường trực Thường vụ thay mặt Ban Thường vụ điều hành các hoạt động hàng ngày của Hội.
Điều 3. Chủ tịch, các Phó Chủ tịch Hội Nhà báo Việt Nam hoạt động theo Điều 19, Điều 20 Điều lệ Hội.
Chủ tịch Hội là người đại diện cho Hội trước pháp luật và chịu trách nhiệm trước pháp luật, trước Ban Chấp hành, Ban Thường vụ về hoạt động của mình; lãnh đạo điều hành các hoạt động của Hội; chủ trì các cuộc họp của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ; phân công công tác của Hội cho các Phó Chủ tịch Hội và các Uỷ viên Ban Thường vụ, Uỷ viên Ban Chấp hành.
 
II. NGUYÊN TẮC, CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ
 
Điều 4. Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội Nhà báo Việt Nam hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, quyết định theo đa số.
Nghị quyết, chủ trương của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Hội chỉ có giá trị khi có trên 50% số thành viên tán thành. Trước khi biểu quyết, mỗi thành viên được phát biểu ý kiến của mình. Thành viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu, có thể báo cáo lên Ban Thường vụ, Ban Chấp hành và Đại hội đại biểu toàn quốc nhiệm kỳ tới (hay bất thường) nhưng phải chấp hành quyết định của đa số; không được truyền bá hay làm trái với Nghị quyết đã ban hành.
Điều 5. Ban Chấp hành Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam (theo Điều lệ) họp mỗi năm ít nhất một lần, có thể họp bất thường, Uỷ viên Ban Chấp hành không được vắng mặt hai kỳ họp Ban Chấp hành liên tiếp mà không có lý do chính đáng. Nếu sự vắng mặt là do sự yếu kém về ý thức tổ chức kỷ luật, vi phạm Điều lệ Hội thì Ban Chấp hành Trung ương Hội xem xét để có hình thức xử lý thích đáng, kể cả việc bãi miễn tư cách Uỷ viên Ban Chấp hành.
Ban Thường vụ Hội Nhà báo Việt Nam họp 3 tháng một lần, khi cần thiết có thể họp bất thường. Uỷ viên Ban Thường vụ không được vắng mặt 3 kỳ họp liên tiếp của Ban Thường vụ mà không có lý do chính đáng. Nếu vi phạm quy định trên, Ban Thường vụ trình Ban Chấp hành trong cuộc họp gần nhất để xem xét và có thể bãi miễn tư cách Uỷ viên Ban Thường vụ.
Điều 6. Thường trực Thường vụ, bao gồm Chủ tịch và các Phó Chủ tịch, là tập thể thay mặt Ban Thường vụ chỉ đạo và điều hành công việc hàng ngày của Hội.
Điều 7. Chủ tịch Hội hoạt động trong điều kiện kiêm nhiệm, cần dành thời gian đủ mức cần thiết để chỉ đạo công tác Hội.
Phó Chủ tịch Thường trực là người thay mặt Thường trực Thường vụ điều hành công việc hàng ngày và thay mặt Chủ tịch Hội khi Chủ tịch Hội vắng mặt. Phó Chủ tịch Thường trực là Thủ trưởng cơ quan Trung ương Hội.
Một số Uỷ viên Thường vụ, Uỷ viên Ban Chấp hành, trong những điều kiện cụ thể, cần thiết, có thể được Thường trực Hội phân công tham gia một số công việc của Hội.
Mỗi Uỷ viên Ban Chấp hành được phân công phụ trách, theo dõi hoạt động của một hoặc một số tổ chức Hội trực thuộc Trung ương Hội, hoặc phụ trách một lĩnh vực công tác của Hội.
Điều 8. Hội Nhà báo Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp của những người làm báo Việt Nam; là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có quan hệ với các bộ, ban, ngành, cơ quan, đơn vị địa phương ở trong nước, các tổ chức ngoài nước.
Tuỳ theo nội dung, tính chất của các mối quan hệ và ở từng trường hợp cụ thể, Lãnh đạo Hội có thể cử một hay một số cán bộ lãnh đạo hoặc hội viên của Hội thay mặt Hội trong công tác đối nội, đối ngoại. Việc cử cán bộ, hội viên đi công tác ở nước ngoài phải được Thường trực Thường vụ Hội bàn bạc và nhất trí.
 
III. THỰC HIỆN QUY CHẾ
 
Điều 9. Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, cơ quan Trung ương Hội có trách nhiệm thực hiện Quy chế này.
Điều 10. Chỉ hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Hội Nhà báo Việt Nam mới có quyền bổ sung, sửa đổi Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam.
Quy chế này đã được Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam (khoá IX) thông qua ngày 04/10/2010 và có hiệu lực từ ngày ký.
 
 

Nơi nhận:
-    Uỷ ban Trung ương MTTQVN (để báo cáo);
-    Ban Tổ chức Trung ương;
-    Uỷ ban Kiểm tra Trung ương;
-    Bộ Nội vụ;
-    Đảng đoàn Hội Nhà báo Việt Nam              
-    Các Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Hội;
-    Các ban, đơn vị trực thuộc Hội;
-    Hội Nhà báo tỉnh, thành phố;
-    Liên chi hội, Chi hội Nhà báo trực thuộc;
-    Lưu Văn phòng.
 
                        TM. BAN CHẤP HÀNH
                                  CHỦ TỊCH
 
                              Đinh Thế Huynh
                                                 (Đã ký)
 
 
 
 
 

 
 
 
 

 

Nguồn tin: ban công tác hội
Các tin mới
Các tin đã đăng
Xem tin theo ngày:  
Tin nổi bật